Cớ sao đầu năm người ta rủ nhau đi mua muối, mà cuối năm lại tất tả đi mua vôi?

"Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi"

Muối thì mặn. Đầu năm mua muối là rước cái mặn mà về nhà, cầu mong một năm tình người sắt son, duyên nợ đậm đà, gia đạo êm ấm. Thế còn vôi? Cửa miệng dân gian cứ nhắc đi nhắc lại một nỗi oán thán: "Bạc như vôi". Vôi là biểu tượng của sự lạnh nhạt, phai phôi, của nhân tình thế thái bẽ bàng. Ấy thế mà, vào lúc giáp Tết, khi người ta hối hả thu vén những gì viên mãn nhất để đón xuân, ông bà ta lại dặn nhau rước cái sự "bạc" ấy về nhà. Lạ quá!

Nhưng người phương Đông mình thâm thúy lắm. Dưới suối nguồn văn hóa Việt, phong tục không bao giờ chỉ là lề thói vô hồn, mà luôn giấu trong nếp áo một nụ cười mỉm của một triết lý sống thong dong mà sâu thẳm.

Cuộc đời làm sao tránh khỏi những lúc bạc bẽo? Ba trăm sáu mươi lăm ngày lặn lội trong dòng đời dâu bể, dẫu ta có dặn lòng phải giữ gìn đến đâu, tấm áo nhân sinh hẳn cũng có ngày vướng víu. Bức tường cõi lòng đôi khi lốm đốm những mảng rêu phong của hờn giận, buồn lo; và những ân tình đôi lúc cũng lấm tấm chút nhạt nhẽo của lợi danh được mất. Cuối năm đi mua vôi, phải chăng là lúc ông bà mình muốn mượn cái "bạc" của đất trời để chủ động bôi xóa đi những tì vết của thế gian?

Hãy nhìn người ta tôi vôi. Những tảng vôi sống cằn cỗi, sù sì, khi thả vào thùng nước bỗng trào lên sùng sục, bốc khói trắng xóa, nóng bỏng như một hỏa diệm sơn thu nhỏ. Đó phải chăng là hình ảnh của những não phiền, những sân hận đang bùng lên dữ dội lần cuối trước khi tan rã? Và rồi, sau trận sôi trào ấy, vôi lắng lại. Ngoan ngoãn, mềm mại, và nguội mát. Vôi hóa thân thành một thứ nước trắng trong, nhẫn nhục dâng hiến.

Người ta nhúng bó chổi đót, phết lên tường những nhát chổi trắng ngần. Vôi đi đến đâu, rêu phong lùi lại đến đó. Dưới nhãn quan của đạo Phật, hành động quét vôi ấy mang dáng dấp của chữ Xả. Ta buông xả những uế tạp, những chấp nệ của hôm qua. Tâm hồn ta lúc ấy được gột rửa, rỗng rang và tinh khôi như một bức tường mới phết.

Cái thảo thơm bao dung của người Việt đâu chỉ dừng lại ở cánh cửa nhà. Nước vôi hiền lành ấy còn được mang ra vườn, cẩn thận quét lên từng gốc cau, gốc bưởi, cội mai già. Quét vôi gốc cây để chống kiến, đuổi sâu bọ ủ mầm qua mùa đông giá rét, khoa học rành rọt bảo thế. Nhưng tâm thức vạn vật hữu linh của người Việt mình thì thầm thì một lẽ đạo lãng mạn và ân tình hơn nhiều. Tôi nhớ nhà thơ Trần Đăng Khoa từng kể mẹ ông nói về tục quét vôi cho gốc cây: Người có áo mới thì cây cối cũng phải có áo mới.

Ôi, cái nếp nghĩ sao mà thương quá đỗi! Con người rộn rã sắm sửa quần lụa áo hoa để du xuân, nỡ lòng nào để cỏ cây cam phận trần trụi, phong phanh mốc meo giữa sương sa? Áo mới cho người, thì cũng phải có áo mới cho cây. Nhát chổi vôi phết lên thân gỗ sần sùi chứa đựng sự bình đẳng vô phân biệt của tình thương. Lòng Từ bi trào ra khỏi lồng ngực con người, tủa đến tận rễ cành của thiên nhiên vô ngôn vô giác. Cỏ cây và con người thảy đều hoan hỉ, cùng rũ bỏ bụi trần để bước vào xuân chung một niềm vui thuần khiết. Một triết lý không lời được thắp lên: vạn vật đồng nhất thể.

Rồi bằng chút cặn vôi lỏng đặc xam xáp dưới đáy thùng, chiều ba mươi Tết, người ta mang ra giữa sân gạch, tỉ mẩn vạch những đường trắng toát thành hình một chiếc cung, có mũi tên cương quyết chĩa thẳng ra ngõ, hay rắc thành những ô bàn cờ bát quái vuông vức nơi cổng nhà. Tục lệ dân gian gọi đó là vẽ bùa trừ tà. Vôi giăng một dải lụa trắng trên mặt đất, vạch một lằn ranh giới thiêng liêng để xua đuổi ma quỷ, cản bước những rủi ro điềm gở của năm cũ, tuyệt nhiên không cho chúng bước qua bậu cửa quấy quả năm mới.

Lấy sự tinh khiết trắng ngần để cản lại cái ác, đó chẳng phải là một tư duy phòng vệ rất đỗi hiền từ sao? Ngẫm cho cùng, ma quỷ ở đâu xa lạ? Cái tà, cái ác ấy phải chăng cũng chính là những tăm tối, những bóng ma của lòng tham, nỗi giận, sự si mê còn rớt lại trong cõi lòng người? Nét vẽ bằng vôi dứt khoát trên sân như một lời tuyên thệ của nội tâm: ta vạch một ranh giới quang minh, đẩy lùi bóng tối. Mũi tên vôi vạch xuống mặt đất không bắn đi để sát thương, mũi tên ấy tống tiễn những phiền não ra ngoài ngõ; để bước qua lằn ranh ấy là thềm nhà của bình an, là tinh khôi thanh tịnh.

Triết lý của vôi cứ thế len lỏi khắp chốn, rồi đọng lại tinh anh trên cơi trầu của nội của ngoại. Cái thứ bột trắng ởn, chát ngầm và mang tiếng là "bạc bẽo" ấy, quái lạ thay, khi quệt một chút xíu vào lá trầu xanh tươm, têm cùng miếng cau chát, nhai trong miệng lại ứa ra một sắc đỏ thắm đến nao lòng. Đỏ như máu. Đỏ như tình người. Không có chút vôi "bạc" ấy, cau và trầu dẫu có nhai nát tươm cũng mãi mãi chỉ là những kẻ rưng rưng xa lạ, chẳng bao giờ có thể quyện vào nhau làm nên son sắc của đạo vợ chồng.

Cuối năm rước vôi để "nuôi" Ông bình vôi, không phải là rước cái vô tình, mà là rước một mầm mống của sự thăng hoa. Đâu phải ngẫu nhiên mà người xưa kính cẩn gọi chiếc bình sành ấy là "Ông". Ta chắp tay kính trọng một sinh thể biết tự bôi xóa bản ngã mình để nhen lên sắc son cho cõi thế.

Ngày nay ở phố thị, người ta làm mới ngôi nhà bằng sơn nước đủ màu. Cây cối trồng trong chậu kiểng cũng chẳng mấy khi được mặc "áo vôi", và người ta dán bùa giấy thay vì vẽ mũi tên vôi trước ngõ. Tiếng rao "Ai vôi không..." lảnh lót thuở nào nay đã chìm khuất vào dĩ vãng. Chẳng mấy ai còn khệ nệ xách giỏ đi mua một cục vôi sống mỗi độ chiều giáp Tết.

Nhưng dẫu vậy, tôi vẫn trộm nghĩ, cái tục "cuối năm mua vôi" ấy vẫn nên được cất giữ, dẫu chỉ là giữ trong tâm tưởng của mỗi chúng ta.

Bởi vì năm cũ đã cạn ngày rồi. Trong cõi lòng ta, hẳn đâu đó vẫn còn những ngóc ngách phủ bụi buồn lo, những vết xước của tị hiềm, giận dỗi. Sao ta không tự rước về cho mình một ít "vôi"? Hãy tự tay phết lên tâm hồn mình một lớp vôi trắng nhạt, khoác cho trái tim một chiếc "áo mới" tinh tươm như người xưa nâng niu mặc áo cho cây. Và hãy dùng vôi yêu thương rào giậu lại nội tâm mình, vẽ một mũi tên chánh niệm xua đi những “con ma” của muộn phiền đang rình rập ngoài thềm cửa.

Trắng đi những lỗi lầm. Trắng đi những oán trách.

Cuối năm rồi, bạn đã dọn lòng mình để "mua vôi" chưa?