Nhìn chữ “Đạo” trong vòng tròn kia. Vòng tròn Enso của Thiền tông không bao giờ khép kín. Phải chăng khoảng hở ấy là để dành cho tiếng cười lọt vào? Để cho cái Mê và cái Tỉnh cùng tồn tại, nương tựa vào nhau mà làm nên cuộc sống?

Hãy nhìn vào bức thư pháp. Một chữ Đạo (道) viết bằng mực tàu, nằm trong một vòng tròn chưa khép kín. Nét cọ mạnh mẽ mà khoáng đạt, như rồng bay, như nước chảy, lại có chỗ đậm chỗ nhạt như chính cái lẽ biến dịch của đất trời. Nhìn vào khoảng trống nơi vòng tròn chưa khép lại ấy, rồi đọc những dòng của cụ Thu Giang Nguyễn Duy Cần trong Cái cười của thánh nhân dẫn Lão Tử, tôi bỗng nghe văng vẳng bên tai một tiếng cười.

Một tiếng cười to.

Lão Tử, ông già cưỡi trâu xanh qua cửa ải Hàm Cốc, đã để lại một câu nói mà ngàn năm sau nghe lại vẫn thấy giật mình: Bậc cao nghe nói đến Đạo, thì cố gắng làm theo. Bậc trung nghe nói đến Đạo, thì thoạt nhớ thoạt quên. Hạng thấp nghe nói đến Đạo, thì cười to lên. Không cười to lên, thì sao đủ để gọi đó là Đạo cả.

Tại sao họ cười?

Cụ Thu Giang bảo vì họ là “ếch ngồi đáy giếng”, vì họ thiển cận. Lời ấy đúng, nhưng có lẽ hơi nghiêm khắc. Nếu nhìn bằng con mắt bao dung hơn, ta sẽ thấy thương cái tiếng cười ấy hơn là giận. Người hạ sĩ sống trong thế giới của những cái “có”. Có danh, có lợi, có được, có mất. Cái gì sờ được, nắm được, cân đo đong đếm được thì mới là Thật. Còn Đạo? Đạo thì vô hình vô tướng, “nhược tồn nhược vong” - như còn như mất. Đem cái Vô hạn nói với kẻ chỉ tin vào cái Hữu hạn, đem cái "vô vi" nói với kẻ đang mải mê "hữu vi", thì làm sao họ không cười cho được?

Họ cười vì thấy nó vô lý, cười vì thấy nó viển vông, cười vì thấy người nói Đạo sao mà ngây ngô quá đỗi giữa cái cuộc đời “khôn sống mống chết” này.

Nhưng cái hay của Lão Tử nằm ở chỗ: Ông không lấy tiếng cười ấy làm điều sỉ nhục. Trái lại, ông coi đó là một bằng chứng xác thực. Tiếng cười ha hả của kẻ hạ sĩ, nghịch lý thay, lại là tiếng vỗ tay tán thưởng vang dội nhất dành cho sự thâm sâu của Đạo. Đạo cần cái cười ấy để khẳng định sự cách biệt của mình với trần cấu. Cũng như đỉnh núi tuyết cần sự lạnh lẽo cô độc để giữ mình thanh khiết, khác biệt với bụi bặm dưới chân đồi.

Đọc tiếp đến đoạn Trang Tử, lòng ta lại chùng xuống.

Nếu Lão Tử nhìn tiếng cười bằng con mắt bình thản, thì Trang Tử lại nhìn đời bằng nỗi ngậm ngùi của kẻ độc hành. Chuyện ba người cùng đi, hai người mê thì kẻ tỉnh đành bất lực. “Biết là sự chẳng được mà vẫn cứ gượng làm, đó lại càng mê hơn thiên hạ nữa!”.

Cái chữ "mê" mà Trang Tử tự cười mình ấy, sao mà đẹp và đau đớn đến thế. Đó không phải là cái mê muội của vô minh, mà là cái "si" của lòng từ bi. Biết người ta không nghe mà vẫn nói. Biết là "nước đổ lá khoai" mà vẫn đổ, hy vọng một giọt nước nào đó thấm được vào lòng người. Đó là cái dũng của kẻ sĩ, hay nói theo nhà Phật, là hạnh nguyện của Bồ Tát: đi vào cõi mê để đánh thức, dù biết mình có thể bị nhấn chìm bởi tiếng cười của đám đông.

Chúng ta sống ở đời, ai dám tự nhận mình là thượng sĩ? Đôi khi ta cũng là trung sĩ, lúc nhớ lúc quên. Đôi khi ta cũng là hạ sĩ, mải mê cơm áo gạo tiền mà cười cợt những điều cao viễn.

Nhìn lại chữ “Đạo” trong vòng tròn kia. Vòng tròn Enso của Thiền tông không bao giờ khép kín. Phải chăng khoảng hở ấy là để dành cho tiếng cười lọt vào? Để cho cái Mê và cái Tỉnh cùng tồn tại, nương tựa vào nhau mà làm nên cuộc sống?

Vậy nên, khi ta nói một điều tâm đắc mà người đời cười chê, xin chớ vội buồn. Hãy nhớ đến Lão Tử, hãy nhớ đến Trang Tử. Hãy mỉm cười. Hãy để tiếng cười của thế gian vang lên. Bởi vì trong cái ồn ào ấy, sự im lặng của Đạo vẫn luôn hiện hữu, lừng lững và mênh mông.

Tiếng cười rồi sẽ tan vào thinh không. Chỉ có Đạo là còn lại.

Như nhiên.