Tục đốt pháo Tết - Khảo cứu văn hóa
Người xưa chế ra pháo là để bắt chước tiếng sấm. Ý là muốn mượn tiếng nổ nhân tạo dưới đất mà đánh thức sấm động trên trời, gọi các vị thần như "Lôi công", "Cổ thần" dậy để làm mưa tưới tắm cho ruộng đồng.

Phàm tục lệ đốt pháo ngày Tết, người đời nay phần nhiều chỉ cốt lấy tiếng nổ vui tai, hoặc cho là để trừ tà ma. Tuy nhiên, xét kỹ trong sách vở và tâm thức người phương Nam, tục này vốn khởi thủy từ nền văn minh nông nghiệp lúa nước. Sự đốt pháo không chỉ là trò chơi, mà là một nghi thức "cầu đảo" (cầu mưa) liên quan mật thiết đến ba hình tượng: Sấm - Rồng - Trống.
Thứ nhất là chuyện Sấm (Lôi):
Theo Dịch lý, phương Đông thuộc mộc, ứng với mùa Xuân, quẻ là Chấn. Chấn nghĩa là sấm, lại cũng có nghĩa là chấn động, là cái bụng mang thai.
Sách xưa có tích bà Khương Nguyên đi chơi ngoài đồng, thấy vết chân người khổng lồ (tức vết chân Thần Sấm) bèn ướm chân vào. Nào ngờ ướm xong thì bụng động, rồi thụ thai mà sinh ra thánh nhân (Hậu Tắc).
Bởi vậy, tiếng sấm đầu mùa xuân (xuân lôi) được người xưa coi là dấu hiệu của sự sinh nở, báo hiệu kho nước nhà trời sắp mở. Tiếng pháo nổ chính là để bắt chước tiếng sấm ấy, cốt để đánh thức dương khí, làm cho "bụng" của đất trời cũng động đậy mà nảy sinh sự sống.
Thứ hai là chuyện Rồng (Thần Mưa):
Đã có sấm thì ắt có mưa, mà chủ của mưa là Rồng. Dân ta tự nhận là con Rồng cháu Tiên, sống nhờ lúa nước, nên rất trọng Rồng. Nhưng giống Rồng có tính ngủ đông. Suốt mùa đông giá rét, Rồng nằm yên dưới đáy nước. Đến đầu xuân, phải có tiếng sấm động thì Rồng mới tỉnh giấc mà bay lên làm mưa.
Tiếng pháo nổ "đùng đoàng" ngày Tết chính là một cách nhân tạo để "đánh thức Rồng dậy". Dân gian muốn mượn tiếng nổ ấy để nhắn với Thần Rồng rằng mùa gieo cấy đã đến, xin ngài làm mưa tưới tắm cho ruộng đồng.
Thứ ba là chuyện Trống (Bảo khí):
Khi chưa có thuốc súng, người xưa phải chế ra vật khí để thay thế uy quyền của trời đất, đó là cái Trống (Trống đồng).
Trống đồng xưa là vật báu (bảo khí) chuyên dùng để cầu mưa. Tiếng trống đánh lên rền vang như sấm dậy. Trên mặt trống đúc hình cóc nhái (loài vật gọi mưa) hoặc chim nước.
Chim là vật biểu của Tiên, nhưng vì Tiên kết hôn với Rồng dưới nước nên chim ấy thường là chim nước, như giống hạc Hồng Bàng quen sống ở sông Dương Tử.
Người xưa đánh trống là để giao cảm với thần linh. Sách xưa chép câu thơ của Tôn Quang Hiến vịnh về người phương Nam rằng:
"Đồng cổ dữ Man ca
Nam nhân kỳ tài đa..."
(Nghĩa là: Trống đồng cùng với bài ca của người Man/ Người Nam tài lạ rất nhiều).
Lược khảo về sự biến cải:
Thuở xưa chưa có thuốc súng, người ta dùng ống tre, ống nứa tươi đốt vào lửa. Hơi nóng làm không khí trong ống nở ra, nổ lốp bốp. Chữ "trúc" là tre, chữ "bộc" là nổ, nên sách cũ gọi là "bộc trúc".
Về sau, nhờ tìm ra chất diêm sinh, than (nitrate), người ta mới nhồi thuốc vào ống giấy, kết thành tràng, tiếng nổ lại càng đanh và giòn giã hơn, thay thế cho tiếng tre nổ ngày xưa.
Lời bàn:
Tuy rằng ngày nay người ta chê tục đốt pháo là tốn kém vô ích, lại dễ sinh tai vạ, nhưng xét về tâm lý dân gian thì lại là điều hệ trọng. Tiếng pháo như tiếng "kẹt cửa" mở ra một năm mới, gieo vào lòng người cái hy vọng bàng bạc về sự sinh sôi. Thiếu tiếng pháo, cái Tết dường như nhạt đi mấy phần, âu cũng là bởi cái tiềm thức sùng kính sự sinh nở đã ăn sâu vào máu thịt người dân nước Việt vậy.
