Tuyên ngôn của Nguyễn Bỉnh Khiêm: Một mai, một cuốc, một cần câu
Cuộc đối thoại giả tưởng của tôi với Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm
NBK: Ngươi khẽ bước thôi, kẻo kinh động đàn cá dưới ao.
TCT: Tiên sinh đang cuốc đất, tiếng cuốc còn vang; sao e ngại một bước chân?
NBK: Tiếng cuốc, cá quen đã lâu. Nhưng chúng không quen được tiếng chân mang nhiều vọng niệm.
TCT: Thưa tiên sinh, hậu bối mạo muội quấy rầy: xin thỉnh giáo một chữ Nhàn. Nhìn tiên sinh ung dung ngắm mây trắng, dường như ai cũng thích cảnh ấy, mà sao thiên hạ ít người dám chọn, cứ lao mình vào trong cái ống đời?
NBK: (Dừng tay, tựa cằm lên cán cuốc) Ung dung ư? Ngươi đọc “Một mai, một cuốc, một cần câu” mà nghĩ là trò tiêu dao sao? Thử nhìn trên tay ta là đồ hưởng lạc, hay đồ mưu sinh?
TCT: Thưa… là đồ mưu sinh. Nhưng trông lại nhẹ nhàng như thú điền viên của người đã về hưu, đã xuất thế.
NBK: Ngươi lầm. Mai để đào đất. Cuốc để xới tơi. Cần câu để kiếm cái ăn. Đó là việc nuôi thân, chẳng phải đồ trang sức. Ta sử dụng chúng để sống.
Vậy ta hỏi người, ta có sở hữu chúng không?
TCT: Tiên sinh mua cái mai cái cuốc, chế ra cần câu mà dùng, thì… chẳng phải là sở hữu sao?
NBK: Chẳng phải. Ta chỉ mượn công năng của sắt gỗ, mượn tay thợ rèn, mượn khí trời đất. Sắt sẽ rỉ, gỗ sẽ mục nát, mọi thứ lại trở về với đất. Ta chỉ được sử dụng trong khoảnh khắc hơi thở này còn ra vào thôi.
Những kẻ ngoài kia “lao xao”, chẳng thỏa chuyện dùng. Họ muốn chiếm hữu: chức tước, bổng lộc. Chiếm hữu cả thứ phù vân như chiêm bao. Đã ôm cái “thớt tanh tao”, tất ruồi nhặng tìm đến.
TCT: Hậu bối thấy thấp thoáng bóng dáng Mạnh Tử đâu đây. Chuyện chị dâu ngã xuống nước, em chồng nên dang tay ra cứu hay không. Cái nắm tay khi ấy… là “sử dụng” chứ không “sở hữu”?
NBK: Ngươi cứ nói, ta đang nghe.
TCT: “Nam nữ thụ thụ bất thân” là Lễ của Nho Gia. Nhưng giữ khư khư cái Lễ mà đứng nhìn người chết, thì hóa cầm thú. Lúc ấy, hành động đưa tay ra cứu là "Quyền". Ta sử dụng sự tiếp xúc thân thể vốn bị cấm đoán để đạt được mục đích cao cả là cứu một mạng người.
NBK: Quyền là quả cân đặt lên cân: biết nặng nhẹ đúng chỗ để cân bằng. Khôn thật, không phải giỏi trò danh lợi, mà là nhận ra cái cốt lõi như lương tri, và cái vỏ như nghi thức.
TCT: Hậu bối đã hiểu.
NBK: Nhưng điều trọng yếu nhất sau khi cứu chị dâu, ngươi biết là gì chăng?
TCT: Là buông tay. Cứu xong mà còn nắm, thì “quyền” hóa “chiếm”, thành tà dâm, thành phá hoại luân thường đạo lý.
NBK: Phải. Người đã hiểu rồi đấy. Ranh giới quân tử và tiểu nhân lợi dụng, chỉ ở chữ Buông đúng lúc. Chỉ sử dụng mà đừng sở hữu, dẫu là thứ quý nhất. Lễ nghi Nho giáo cũng chỉ là một tấm gương để sử dụng soi tâm. Nếu sở hữu, lễ giáo thành sợi dây xích, thành tảng đá buộc chặt dìm người xuống đáy vực ngay.
TCT: Vậy nên tiên sinh chọn vế “Nhàn”, chọn cái “Dại” trong mắt người đời: dùng sự ẩn dật như phương tiện, chứ không ôm lấy sự lười biếng.
NBK: (Mỉm cười, chỉ khóm trúc rì rào) “Thu ăn măng trúc, đông ăn giá”. Ta vào rừng, thấy măng thì bẻ ăn. Ăn xong thì thôi. Ta chẳng rào cả rừng mà bảo: “Rừng của Trạng Trình”. Ta cũng chẳng tích măng ngàn bụi để bán.
Ta xuống hồ tắm mát: “Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”. Tắm xong lên bờ. Ta chẳng xây tường bao quanh hồ, chẳng cắm biển đánh dấu chỉ Nguyễn Bỉnh Khiêm được tắm. Ấy là khác nhau giữa dùng và giữ.
Ta xem thiên nhiên như tri kỷ; kẻ “khôn” xem thiên nhiên như kho hàng.
TCT: À… hậu bối hiểu: tiên sinh vẫn dùng thiên nhiên để duy trì sự sống, nhưng không biến thiên nhiên thành tài sản riêng.
NBK: Đúng. Cái an do “sở hữu” mà ra, phần nhiều là an giả. Hữu càng nhiều, lo mất càng lớn. “Thớt có tanh tao ruồi đỗ đến - Gang không mật mỡ kiến bò chi”. Người ôm vinh hoa như thớt tanh, ghen ghét đố kỵ tại họa như ruồi nhặng tất kéo tới. Còn lòng không mật mỡ như gang, không sở hữu gì thì tự nhiên vô hình trước tai ương.
TCT: Thưa tiên sinh. Vậy cốt lõi của việc "Chỉ sử dụng, không sở hữu" chính là để đạt được trạng thái "Đủ" phải không ạ?
NBK: Chính thế. Đó là "Tri túc".
Người đời tưởng "Đủ" là một con số. Có 100 lạng vàng đã đủ chăng? Không, có trăm lại muốn ngàn. Có vợ đẹp rồi lại ham nạp thêm người thiếp khác. "Vợ mình riêng đủ lắm rồi - Còn toan mơ ước vợ người làm chi". Lòng tham là thùng không đáy.
Đủ chẳng ở chỗ tích lũy. Đủ ở chỗ biết dừng và biết buông.
TCT: Xin tiên sinh nói rõ hơn về “biết dừng”?
NBK: “Thu ăn măng trúc” là đủ no. “Hạ tắm hồ sen” là đủ sạch.
Kiếp người trăm năm là hữu hạn, nên "nhìn xem phú quý tựa chiêm bao" là đủ tỉnh.
Khi chỉ dùng, ta lấy vừa cái cần. Khi muốn sở hữu, ta vơ cả cái không cần, chỉ để thỏa mãn lòng tham.
Tri túc là dừng đúng lúc: khi thân tâm đã đủ, khí lực đã vừa.
TCT: Thưa tiên sinh, ở thế kỷ 21, người ta đo thành công bằng những gì họ sở hữu: nhà lầu, xe hơi, tài khoản ngân hàng. Nếu nói “đừng sở hữu gì”, họ sẽ bảo điên; hoặc cho rằng kém cỏi, thiếu tham vọng, thất bại nên mới nói vậy, như phép “thắng lợi tinh thần AQ”.
NBK: (Cười lớn. Tiếng cười vang; cá dưới ao chợt quẫy. Chắc chúng chưa quen với tiếng cười này)
Kẻ “khôn” thời các ngươi tìm đến chốn lao xao để vơ vét. Tưởng mình sở hữu vạn vật, mà rốt cuộc vạn vật lại sở hữu mình. Mua được ngàn mẫu ruộng, tâm bị ngàn mẫu ruộng trói: lo giữ, lo mất, lo giá lên xuống, lo người khác lấn. Rốt cuộc ruộng làm chủ người, hay người làm chủ ruộng?
Ta “dại”, ta chẳng có đất riêng, chỉ có trời đất chung. Ta ngắm trăng, trăng là của ta; ta đón gió, gió là của ta. Ta đâu cần địa bạ cho mặt trăng, đâu cần khế ước cho làn gió. Ta dùng cả vũ trụ này, không tốn một xu, cũng chẳng lo ai trộm cắp.
TCT: Vậy thông điệp không phải là từ bỏ thế giới, mà là đổi cách sống cùng thế giới. Từ “chiếm hữu” sang “tương tác”: tương tác với thiên nhiên để nuôi dưỡng sự sống; rồi buông bỏ lòng tham để bảo toàn hạnh phúc.
NBK: Chớ cố ôm cả trời đất. Hãy dùng trời đất bằng lòng kính cẩn. Như quân tử đưa tay cứu người, như hiền triết dùng nước rửa chân.
Một mai, một cuốc, một cần câu. Một đã đủ, đôi khi còn thừa. “Một” chẳng phải cô đơn; “một” là tự chủ. Một là tuyên ngôn của ta về ĐỦ.
Biết Đủ, là Tự Do.
-----
1.
Một mai, một cuốc, một cần câu
Thơ thẩn dầu ai vui thú nào.
Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn, người đến chốn lao xao
Thu ăn măng trúc, đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.
Rượu đến bóng cây ta hãy uống,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao
(Cảnh Nhàn – Nguyễn Bỉnh Khiêm)
2.
Sách Mạnh Tử (Chương Ly Lâu thượng):
Thuần Vu Khôn hỏi: "Trai gái không được đưa tay cho nhau, là lễ phải không?" (Nam nữ thụ thụ bất thân, lễ dư?)
Mạnh Tử đáp: "Phải, là lễ".
Hỏi tiếp: "Chị dâu chết đuối thì có dùng tay vớt không?" (Tẩu nịch, tắc viện chi dĩ thủ hồ?)
Đáp: "Chị dâu chết đuối mà không vớt là loài sài lang. Trai gái không đưa tay cho nhau là lễ; chị dâu chết đuối mà dùng tay vớt là quyền biến vậy" (Tẩu nịch viện chi dĩ thủ giả, quyền dã).
3.
"Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao".
Đây là một điển cố nhắc đến câu chuyện Thuần Vu Phồn, người nằm mộng thấy công danh phú quý tột bậc. Nhưng khi tỉnh dậy chỉ là một tổ kiến dưới gốc cây hòe.