Nếu giang sơn là một bức cổ họa vàng son, người đời thường chỉ thích nhìn ngắm nét mực đậm đà nơi kinh kỳ mà ít chú ý đến khoảng trống thầm lặng bên rìa mép lụa. Biết đâu, khoảng trống ấy mới làm nên tầm vóc rộng lớn của bức họa giang sơn.

Từ hành động bước xuống chiến mã của Uy Minh Vương Lý Nhật Quang ở xứ Hoan Châu nghìn năm trước, đến những nhịp cầu công nghệ và tri thức "lội ngược dòng" về bản làng hôm nay là bài học về cách đánh thức nội lực của những vùng đất ngoại vi, chính là long mạch định hình nên tầm vóc của dân tộc.

Khi hoàng tử bước xuống ngựa…

Hãy ngược dòng thời gian về thế kỷ 11, nhìn vào mảnh đất Hoan Châu tức vùng Nghệ An ngày nay. Trong tâm thức của triều đình trung ương bấy giờ, đây là nơi "biên viễn" vô cùng phức tạp: đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt "chưa mưa đã úng, chưa nắng đã hạn", lòng dân chưa phục, trộm cướp hoành hành, lại thường xuyên chịu sự quấy nhiễu của các bộ tộc. Gửi một người vào trị vì Hoan Châu lúc ấy chẳng khác nào đưa họ vào một lò lửa dữ.

Năm 1039, Hoàng tử Lý Nhật Quang được vua cha Lý Thái Tổ cử vào làm Tri châu Hoan Châu. Khi ấy, tư duy của một bậc đại trí đã mách bảo ông:

Bạo lực chỉ tạo ra sự sợ hãi nhất thời, chỉ có sinh kế và đức trị mới kiến tạo nên lòng trung thành vạn đại.

Lý Nhật Quang bước xuống chiến mã, hòa mình vào đời sống của trăm họ. Ông vạch ra một chiến lược cải cách toàn diện mà ngàn năm sau hậu thế nhìn lại vẫn thấy bất ngờ: dạy dân khai hoang lập ấp, làm thủy lợi dẫn nước vào đồng cằn, mở mang các ngành nghề thủ công như dệt lụa, làm gốm, đúc đồng. Ông mở đường thông thương, biến vùng đất cô lập thành một trung tâm giao thương sầm uất. Ông thu phục các bộ tộc thiểu số bằng chính sách bao dung, cảm hóa bằng cái tâm chân thành của một bậc phụ mẫu chi dân.

Quả ngọt của chính sách "khoan thư sức dân" ấy là gì? Hoan Châu từ một vùng đất hoang vu đã lột xác thành một vùng kinh tế trù phú, thành "kho người, kho của" vững chắc. Khi kinh kỳ Thăng Long gặp biến động, chính vùng phên dậu Hoan Châu lại là nơi cung ứng binh lực, lương thảo để triều đình dẹp loạn. Lý Nhật Quang được nhân dân tôn kính như một vị Thánh, khói hương thờ phụng suốt mười thế kỷ qua tại đền Quả Sơn chính là cây thước đo bất tử lòng dân dành cho ông.

Đánh thức rồng thiêng nơi bờ cõi

Nhìn từ câu chuyện của Uy Minh Vương để ngẫm về thời đại chúng ta đang sống, không khỏi dấy lên một niềm trăn trở về cách chúng ta đang nhìn nhận những vùng đất khó khăn, biên viễn. Có một định kiến đáng buồn người ta thường nhìn về miền núi cao, về những bản làng xa xôi bằng con mắt ái ngại, coi đó là nơi của đói nghèo, của những gánh nặng cần được trợ cấp.

Nhưng bài học từ Uy Minh Vương chứng minh rằng những vùng đất ấy không cần lòng thương hại. Đó là những mỏ quặng văn hóa, là những tài nguyên thiên nhiên và nguồn nội lực con người chưa được khơi thông long mạch. Nơi đó không thiếu tiềm năng, nơi đó chỉ đang thiếu những "Uy Minh Vương" của thời đại mới, những người dám bước xuống ngựa, đem tri thức và bầu máu nóng xuôi vạn dặm về với bản làng.

Đâu đó giữa những gập ghềnh của núi cao rừng thẳm, chúng ta đã bắt đầu nhìn thấy những đốm lửa hy vọng. Hình ảnh những người cán bộ trẻ, những "bí thư xứ Mường online" dùng sức mạnh của công nghệ, dùng làn sóng internet để mang nông sản bản địa, mang văn hóa của đồng bào bước ra thế giới, chính là hơi thở của Lý Nhật Quang thời đại số. Họ không ngồi chờ, họ tự dùng tri thức để bắc những nhịp cầu, biến góc núi heo hút thành trung tâm kết nối của toàn cầu.

Một vài đốm lửa nhỏ chưa đủ làm ấm cả một dải giang sơn. Biên viễn muốn thực sự hóa thành một Hoan Châu nghìn năm trước, rất cần một cuộc đại dịch chuyển nguồn lực mang tầm chiến lược. Cần lắm những trí thức trẻ từ thủ đô, những nhà khoa học, những nguồn vốn đầu tư can đảm rời bỏ vùng an toàn của phố thị để dấn thân vào sương gió biên thùy.

Khi dòng chảy tri thức hòa quyện với sức sống bền bỉ của đất sỏi bờ cõi, khi công nghệ hiện đại thức tỉnh được trầm tích văn hóa ngàn năm của bản làng, thì nơi phên dậu sẽ không còn là gánh nặng, mà sẽ trở thành điểm tựa vững chãi cho một Việt Nam vươn mình.