Tháng Hai âm lịch. Gió khẽ gợn trên mặt sông Hồng, đem theo mùi hương ngai ngái của đất phù sa và sương sớm. Dọc bến sông ngập tràn cờ ngũ sắc. Người dân đang nô nức trẩy hội đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung.

Đi hội, người ta mang hương hoa oản quả, mang theo cả những lời nguyện cầu mua may bán đắt, cầu tài cầu lộc. Bởi dẫu sao, lịch sử cũng suy tôn Chử Đồng Tử như một ông tổ của nghề thương hồ nước Việt. Nhưng đứng giữa đám đông rộn rã ấy, tôi chợt muốn mời bạn bước lùi lại một bước. Lánh ra mép nước. Nhắm mắt lại. Bạn có nghe thấy gì không?

Không phải tiếng trống đâu. Là tiếng nước. Tiếng nước xối xuống một bãi cát của ngàn năm trước. Bãi cát ấy mang một cái tên, chao ôi, dung dị mà thẳm sâu như một công án thiền: Bãi Tự Nhiên.

Bạn hẳn đã nằm lòng câu chuyện cổ. Chử Đồng Tử nghèo. Nhưng chữ "nghèo" trong ngôn ngữ thế gian e không đủ sức diễn tả sự cùng cực ấy. Gia tài của hai cha con chỉ có chung một chiếc khố. Cha nhắm mắt xuôi tay, chàng khóc, tháo chiếc khố duy nhất ra để liệm người sinh thành. Chàng bước vào đời, đứng giữa trời đất, trần trụi. Dưới con mắt của trần tục, đó là tột cùng của sự khốn khổ. Nhưng bạn ạ, dưới lăng kính của triết lý, đó lại là đỉnh cao của chữ "Không", của sự Vô Ngã. Chàng rỗng rang. Chàng không vướng bận một mảy may tài sản nào của thế gian, không có cả một tấc vải để che đậy bản ngã. Khi không còn bất cứ thứ gì ngoài thân để bám víu, chàng vùi mình vào cát. Cát là mẹ thiên nhiên, rỗng lặng, bao dung ôm ấp lấy cái hình hài nguyên sơ ấy.

Và rồi, Tiên Dung đến. Nàng là con gái Hùng Vương. Nàng có gì? Nàng có tất cả. Nàng là hiện thân của tột đỉnh quyền uy và nhung lụa, tột đỉnh của cái "Có". Nhưng lạ thay, vị công chúa ấy lại khước từ mọi lầu son gác tía, khước từ những trói buộc của hôn nhân vương giả để giong thuyền ngao du sơn thủy. Tự thẳm sâu, tâm hồn nàng mang khao khát của một cánh chim đi tìm sự Tự do.

Thế rồi nàng sai người quây màn tắm. Ngẫu nhiên thay, lại quây đúng ngay chỗ bãi cát chàng trai đang lẩn trốn.

Một gáo nước dội xuống. Cát trôi đi.

Bạn xem, khoảnh khắc ấy huyền diệu biết bao. Gáo nước của Tiên Dung dội xuống không chỉ rửa trôi lớp cát vô tri. Dòng nước mầu nhiệm ấy đã xối đi vĩnh viễn mọi lằn ranh của thế tục. Bức màn lụa che chắn bên ngoài làm sao giấu được sự thật đang phơi bày bên trong: một nam, một nữ, đối diện nhau, tinh khôi, vẹn nguyên như buổi hồng hoang. Tột đỉnh của cái Có và tận cùng của cái Không va vào nhau. Ở ngay điểm chạm ấy, giai cấp tan biến. Giàu nghèo tan biến. Vương quyền và sự bần cùng đều bị dòng nước gột sạch. Chỉ còn lại hai con người, thuần khiết, soi bóng vào nhau.

Tiên Dung mỉm cười: "Ta vốn không định lấy chồng, nay vô tình gặp người này ở đây, âu cũng là duyên trời tác hợp".

Bạn có thấy nụ cười ấy đẹp không? Một nụ cười thong dong, tự tại làm sao! Đó không phải là sự bốc đồng của tuổi trẻ, mà là sự bừng ngộ của trí huệ trước chữ "Duyên". Nàng nhận ra sự trần trụi của chàng trai kia không phải là sự thấp hèn, mà là bản thể chân thật nhất của con người. Nàng không thương hại. Nàng gạt phăng quyền quý, khước từ quyền uy để cúi xuống. Tình yêu, tự bản chất của nó, vốn dĩ đã là một cuộc giải thoát vĩ đại. Nó bẻ gãy mọi khuôn vàng thước ngọc để con người đạt tới cái Tự Do tuyệt đối.

Nhưng triết lý của câu chuyện không dừng lại ở một thiên tình sử. Chử Đồng Tử và Tiên Dung không dắt nhau về kinh thành hưởng vinh hoa phú quý. Họ ở lại, cùng dân nghèo mở bãi, lập chợ. Rồi họ gặp Đạo. Họ nhận từ nhà sư Phật Quang một chiếc gậy và một chiếc nón lá. Gậy và nón - hành trang của người bộ hành đi trên con đường vô ngã, đi tìm bóng mát của cõi tâm.

Đến khi quân nhà vua kéo tới vây ráp, mang theo gươm giáo và sự thị uy của quyền lực thế tục, hai vợ chồng đã làm gì? Họ không kháng cự. Họ không vung gươm bảo vệ cơ ngơi. Chỉ sau một đêm, tất cả thành quách, lầu các cùng họ bay thẳng lên trời. Để lại trần gian một đầm lầy mênh mông sương khói - Nhất Dạ Trạch.

Nhất Dạ Trạch - Đầm Một Đêm. Chỉ một đêm thôi mà hóa cõi đi về. Đứng ở góc độ thiền vị, đó là một lộ trình tuyệt đẹp của sự giải thoát. Họ "bay lên", hay thực chất là họ đã "buông xuống"? Buông xuống của cải, buông xuống quyền lực, buông xuống mọi bám víu ở đời. Cung điện nguy nga đấy, rồi cũng hóa đầm nước mênh mang. Dạ Trạch để lại giữa nhân gian, chẳng phải là một bài thuyết pháp không lời về sự Vô Thường đó sao? Càng nắm giữ, càng sợ mất mát. Càng buông xả, tâm hồn càng nhẹ bẫng để thong dong cất cánh bước vào cõi vĩnh hằng.

Hôm nay, trong lễ hội có tục "rước nước". Đoàn thuyền sơn son thếp vàng bơi ra tận vòng xoáy giữa dòng sông Hồng, trầm chóe xuống, múc những gáo nước trong trẻo nhất mang về đền tắm tượng. Tại sao lại phải ra tận giữa dòng? Có lẽ bởi nước ở ven bờ đã lấm láp phù sa, đã vẩn đục những toan tính bán mua của hai bờ lở bồi. Chỉ có nước ở giữa dòng mới là giọt tinh khiết của cội nguồn. Nước mềm mại, khiêm nhường nhưng lại thong dong vô nhiễm.

Rước nước, suy cho cùng, là rước cái Tâm thanh tịnh về lại với cõi người. Tắm tượng, hay chính là gột rửa cho tâm hồn mình, để gỡ bỏ những danh lợi ồn ào mà ta đang khoác lên như những "chiếc khố" vô hình trĩu nặng?

Sông kia vẫn chảy. Cát dẫu bay đi. Nhưng nụ cười thong dong trên bãi Tự Nhiên năm nào dường như vẫn lấp lánh trên mặt sóng.