Bụt Vàng Giáng Thế
Câu chuyện huyền sử về sự ra đời của Trần Khâm, tức Phật hoàng Trần Nhân Tông sau này.

Thăng Long, mùa đông năm Mậu Ngọ (1258).
Gió bấc từ phương Bắc ràn rạt tràn về, cuốn theo cái buốt giá lùa qua những tầng mái lợp ngói thanh lưu ly của cung Thưởng Xuân. Đất trời Thăng Long đang chìm trong tiết giá lạnh của tháng Một âm lịch. Dấu tích của trận binh lửa Đông Bộ Đầu đánh đuổi bè lũ Thát Đát của Ngột Lương Hợp Thai hồi đầu năm dường như đã bị lớp sương mù khỏa lấp. Triều đại Đông A sau cơn bão táp lại vươn mình, tuôn chảy một luồng vượng khí rần rật. Thái Tông hoàng đế đã nhường ngôi, tân Quan gia Trần Thánh Tông bước lên ngự tọa, mang theo khát vọng về một nền thái bình thịnh trị.
Nhưng với Quan gia Thánh Tông lúc này, niềm hoan hỉ không chỉ đến từ việc xã tắc âu ca, mà còn ở một điềm lành chốn cung vi: Nguyên Thánh Thiên Cảm Hoàng hậu đang đến kỳ mãn nguyệt khai hoa.
Đứng chắp tay sau rèm châu, vị hoàng đế trẻ tuổi đắm chìm trong dòng hồi tưởng. Ngài nhớ lại một đêm mùa xuân tĩnh lặng mấy tháng trước. Khi ấy, vạn vật đang đâm chồi nảy lộc. Hoàng hậu Thiên Cảm, người vốn nổi tiếng hiền thục, tâm có nhân, dung mạo đoan trang lại thâm tín Phật pháp, đang say giấc hòe. Bỗng nhiên, bà sực tỉnh, trán lấm tấm mồ hôi nhưng thần sắc lại rạng ngời tú khí. Bà kể lại mộng cảnh vừa thấy: Trong hào quang ngũ sắc tưng bừng, có một vị thần nhân vóc dáng lẫm liệt, uy nghi cao lớn tựa như bức tượng sứ của nhà Trời giáng hạ. Vị thiên sứ ấy tiến lại gần, hai tay nâng hai thanh bảo kiếm sáng rực hào quang kính cẩn trao cho Hoàng hậu, cất lời dặn dò những cơ sự huyền bí rồi thoắt cái bay vút vào hư không.
Nghe Hoàng hậu tâu bày sự lạ, Thánh Tông hoàng đế thấu tỏ huyền cơ, đôi mày rồng khẽ dãn ra. Ngài vỗ tay xuống án kỷ, hoan hỉ bàn mộng rằng:
- Kỳ tai! Lưỡng kiếm ấy, một là kiếm hộ quốc để dẹp yên bờ cõi, một là tuệ kiếm để chặt đứt cõi vô minh. Thần nhân trao kiếm, ấy là cớ làm sao? Ấy chính là Trời tộ (ban phúc) cho nhà Trần ta đó!
Từ sau đêm chiêm bao mầu nhiệm ấy, Hoàng hậu thụ thai. Suốt thời gian cưu mang long chủng, cơ thể bà chẳng mảy may nhọc mệt như nữ nhân phàm tục. Trái lại, dung nhan bà càng thêm phương phi, tốt tươi, cốt cách toát ra vẻ nhu hòa, từ bi tựa một vị Bồ Tát. Dường như thánh thai trong bụng đã mang sẵn tấm lòng đại giác mà tỏa rạng ra ngoài.
Rồi giờ khắc trọng đại cũng điểm.
Đêm ấy là đêm mười một tháng Mười một (11/11). Khí lạnh căm căm bao trùm vạn vật. Bỗng từ trong tẩm điện, tiếng khóc trẻ thơ lanh lảnh cất lên, sung mãn và vang rền xé toạc màn đêm u tịch. Hoàng trưởng tử đã đản sinh!
Bà mụ cẩn trọng nâng vương nhi được ủ trong dải lụa điều dâng lên Vua cha. Quan gia Thánh Tông vội vã sải bước tới, đỡ lấy cốt nhục của mình. Nhưng khoảnh khắc lớp lụa tơ tằm được hé mở, nhà vua sững sờ. Cả tẩm điện dường như bừng lên một luồng sáng vi diệu. Đứa bé vừa thoát thai không hề đỏ hỏn, mà toàn thân tỏa ra một thứ ánh sáng tịnh khiết. Làn da rực rỡ một màu kim sắc (sắc vàng) óng ả như được đúc bằng khối vàng mười, tướng mạo đoan nghiêm lạ thường!
Quan gia dâng trào xúc động. Ngài quay sang các cung tần thị nữ và quan hầu cận, cất giọng nghẹn ngào trong niềm hỷ lạc vô biên:
- Bay xem! Hay là nhà ta có phúc đức lớn, nên nay mới sinh ra được một vị Bụt vàng!
Sáng hôm sau, sương giá chưa tan, Quan gia đã cho vời vị thuật sĩ tinh thông dịch lý, tướng pháp bậc nhất Thăng Long vào bệ kiến. Vị lão thuật sĩ râu tóc bạc phơ tiến đến bên nôi gấm. Bàn tay nhăn nheo của ông lướt qua vầng trán cao rộng của hài nhi, rồi chợt khựng lại. Khẽ vạch lớp tã lót bên nương (phía dưới vai) của bên hữu kiên (vai phải) đứa trẻ, đôi mắt già nua bỗng mở to kinh ngạc. Ở đó, một nốt ruồi ngự chễm chệ, hiện lên rành rành như ấn chỉ của cõi thiên tào.
Lão thuật sĩ lùi lại ba bước, sụp lạy, dập đầu tâu lớn:
- Muôn tâu bệ hạ! Dị tướng vạn người có một đây rồi! Lão thần xem tướng vương giả đã nhiều nhưng chưa từng thấy thiên tư nào nhường này. Thái tử mang chí cả ngất trời. Đôi vai có nốt ruồi hiển lộng ấy, mai này ắt gánh vác việc đại khí của quốc gia, chẳng những làm bậc minh quân chăn dắt muôn dân, mà còn làm bậc Đạo sư, làm thầy của cả mười phương cõi giới!
Thánh Tông hoàng đế im lặng lắng nghe, tâm can cuộn lên những đợt sóng suy nghiệm. Lời thuật sĩ phán đoán ứng hợp hoàn hảo với giấc mộng thần nhân dâng hai thanh kiếm dạo nào. Một bậc vương giả gánh vác giang sơn bằng sức mạnh đại hùng, một vị Phật độ hóa chúng sinh bằng lòng đại bi. Đạo và Đời hòa quyện trong một con người không chia lìa.
Với tất cả tình yêu thương dưỡng dụ, Quan gia ban tên húy cho vương nhi là Khâm – mang hàm ý sự cung kính, trí tuệ và thuận theo lẽ trời. Đồng thời, ghi nhớ bẩm tính kim sắc thoát tục của con, Vua cha và Hoàng hậu đặc biệt đặt cho chàng một tôn hiệu vô tiền khoáng hậu: Điều Ngự Vương.
"Điều Ngự" vốn lấy từ "Điều ngự trượng phu" – một trong mười danh hiệu hồng danh của Đức Phật, chỉ bậc đại trượng phu có đủ dũng khí và trí tuệ để điều phục những uế trược của nhân tâm, dẫn dắt chúng sinh về bờ giác ngộ. Tôn xưng một đứa trẻ ẵm ngửa là Điều Ngự Vương, tức "Vua Phật", Trần Thánh Tông dường như đã nhìn thấu suốt thiên cơ về cuộc đời vĩ đại của con trai mình.
Đại Việt sử ký toàn thư sau này chỉ chép lại sự kiện ấy bằng một dòng súc tích: "Mùa đông, tháng 11 ngày 11 hoàng trưởng tử Khâm sinh".
Thế nhưng, sau dòng sử ngắn ngủi ấy, bánh xe thời gian đã chuyển luân. Đứa trẻ mang vóc dáng Bụt vàng giáng thế trong đêm đông giá rét năm ấy, hai mươi bảy năm sau sẽ trực tiếp khoác chiến bào, lãnh đạo quân dân Đại Việt hai lần đạp nát cuồng vọng của vạn kỵ binh Nguyên Mông. Để rồi khi thiên hạ thái bình, đấng minh quân ấy lại rũ bỏ ngai vàng như trút một chiếc áo tơi rách, đi chân trần bước lên đỉnh Yên Tử sương mù, trở thành Trúc Lâm Đại Sĩ – Đệ nhất Sơ tổ của Thiền phái Trúc Lâm, một vị Phật hoàng vĩ đại ngàn năm rọi sáng tâm thức dân tộc Việt.