Nói đến tu hành, người ta thường mường tượng ngay đến việc phải cạo đầu, đắp y cà sa, náu vào rừng sâu núi thẳm, ngày đêm gõ mõ tụng kinh để lánh xa cõi hồng trần đầy hỉ nộ ái ố. Nhưng Thượng Sĩ Tuệ Trung thì không.

Cái gốc rễ sâu xa làm nên một dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử lừng lẫy của nước Nam lại bắt nguồn từ một cư sĩ. Một vị vương hầu xênh xang áo mão. Một ông tướng xông pha trận mạc, gươm vấy máu quân thù để giữ yên bờ cõi trước vó ngựa Nguyên Mông. Ông có thê thiếp, có điền trang. Nghĩa là, bụi bặm của thế cuộc bám đầy trên vạt áo ông.

Nhưng lạ lùng thay, tâm ông lại tĩnh tại như một bầu trời vô tận. Chữ của thiền gọi đó là cảnh giới "hòa quang đồng trần" - giấu đi ánh sáng rực rỡ của mình để hòa trọn vào cùng cát bụi. Giấu đi, không phải vì sợ hãi, mà vì ánh sáng thật sự thì không cần chói lóa. Nó tự nhiên như hơi thở, hiền lành như đóa sen hàm tiếu nở bừng ngay giữa vũng bùn lầy lội nhất.

Tôi cứ buồn cười mãi, và cũng thích thú mãi, mỗi khi nhớ lại giai thoại về bữa tiệc thiết đãi của Khâm Từ Hoàng thái hậu - em gái ruột của ông. Giữa bàn tiệc dọn ra cả cỗ chay lẫn cỗ mặn. Thượng Sĩ ngồi vào, cứ điềm nhiên gắp thịt cá mà ăn ngon lành. Thái hậu kinh ngạc quá, hốt hoảng hỏi: "Anh tu thiền mà lại ăn cá thịt, thế thì thành Phật làm sao được?".

Ôi chao, câu hỏi của Thái hậu há chẳng phải cũng là câu hỏi muôn đời của chúng ta đó sao? Câu hỏi của những cái đầu luôn ưa chia cắt rạch ròi đen - trắng, chay - mặn, phàm - thánh. Ta cứ tưởng tu là phải ép xác, rũ bỏ củ hành củ tỏi thì lòng mới thanh cao, mới bay lên được cõi Phật. Ta hay kẹt vào hình tướng. Nhìn mặn thì chê dơ, nhìn chay thì khen sạch. Ngồi giữa chợ thì chê ồn ào, bước vào chùa lại bám víu lấy sự tĩnh lặng. Thế là ta cứ quẩn quanh, tự nhốt mình trong cái lồng nhị nguyên do chính ta đan lấy.

Nhưng hãy nghe Thượng Sĩ trả lời này. Ông nhìn em gái, cười bình thản: "Phật là Phật, anh là anh. Anh chẳng cần làm Phật, Phật chẳng cần làm anh."

Bạn có nghe thấy tiếng sấm sét rền vang chấn động tâm can trong câu nói nhẹ như mây bay ấy chăng? Giản dị thế thôi mà phá nát mọi ngục tù! Người ta tu là để mong "thành" Phật, mong thoát khỏi cái "tôi" phàm phu nhọc nhằn này để khoác lên một cái "tôi" thánh thiện cao siêu hơn. Nhưng Tuệ Trung bảo: Không. Tại sao tôi phải chạy theo làm một ông Phật ở đâu đâu? Khi tâm đã rỗng rang, khi lòng đã hoàn toàn vô ngã, thì nhai một miếng thịt hay nhai một cọng rau có khác gì nhau đâu? Chấp vào miếng đậu hũ để tự xưng mình là thanh tịnh, há chẳng phải là vác thêm một tảng đá "bản ngã" nặng trịch trên lưng đó sao? Đạo lý đâu phải là việc chạy trốn cuộc đời để chui vào một cái vỏ bọc tinh khiết giả tạo.

Giải thoát, suy cho cùng, là sự tự do tuyệt đối của tâm trí.

Chính cái tự do tột cùng ấy đã ươm mầm cho nước Việt một Trần Nhân Tông vĩ đại. Khi chàng hoàng tử trẻ tuổi Trần Khâm rụt rè hỏi người bác ruột về yếu chỉ của thiền, Tuệ Trung chỉ trao lại vỏn vẹn một câu: "Phản quan tự kỷ bổn phận sự, bất tùng tha đắc" (Xoay ánh sáng lại soi rọi vào chính mình, đó là phận sự gốc, không thể tìm cầu ở bên ngoài mà được).

Đẹp làm sao! Thượng Sĩ gõ nhẹ vào đầu chúng ta mà thức tỉnh: Quay lại đi! Đừng vác bát đi xin Phật ở tận Tây Thiên mù mịt. Đừng chạy sổng ra ngoài mà tìm kiếm chân lý trong những trang kinh điển ngập đầu. Phật ở ngay trong tiếng thở nầy. Trong nhịp đập của trái tim bạn, trong chén trà bạn đang cầm, trong nhát chổi bạn đang quét tước. Đang vui biết mình vui, đang buồn biết mình buồn, làm việc hết mình, yêu thương hết mình nhưng không để bụi trần lấm tâm chân y. Bạn là chủ nhân của ngôi nhà mình cơ mà, sao cứ phải đi làm kẻ ăn mày van lơn ròng rã?

Một con người rong chơi giữa cõi đời vĩ đại như thế, đến lúc đứng trước ranh giới tử sinh cũng thong dong lạ thường. Ông hát ngêu ngao: "Sinh tử nhàn nhi dĩ" (Sống chết chỉ là chuyện nhàn mà thôi). Giữa trận mạc tên bay đạn lạc, giữa chốn quan trường vinh nhục mong manh, phải thấu suốt thân này như bóng chớp, như bọt nước, mới có thể ném một nụ cười thản nhiên vào mặt tử thần uy dũng như thế. Sống chết nhẹ tựa việc thay một chiếc áo. Cởi áo ra, gió vẫn thổi bềnh bồng.

Giữa một thế giới tất bật mà ai cũng đang gồng mình lên để đóng một vai nào đó - vai người thành đạt, vai người đạo đức, vai kẻ trí thức quan trọng - ta bỗng thèm khát biết bao cái cốt cách của một Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài từ quá khứ bước ra, vỗ vai ta, xui ta hãy mỉm cười và trút bỏ những lớp mặt nạ tuồng chèo ấy xuống.

Hãy cứ sống, cứ làm việc, cứ yêu thương, đói thì ăn, mệt thì ngủ. Chân lý nó nấp dưới đáy một chén trà thôi. Uống cạn đi, rồi mình cùng phủi áo bước ra phố. Dẫu ngoài kia kẹt xe hay khói bụi, nhưng nếu lòng ta giữ được một nụ cười rỗng rang vô úy như Thượng Sĩ, thì cõi trần ai đầy lấm láp nầy, há chẳng phải là một đạo tràng thanh tịnh rực rỡ nhất đó sao?