Trước bản Quy hoạch Hà Nội tầm nhìn 100 năm, chúng ta thử học cách tư duy của thánh nhân xưa, cụ thể là Lão Tử, người nổi tiếng thấu suốt quy luật của vũ trụ. Chương 39 Pháp Bản trong sách Đạo Đức Kinh nhấn mạnh hai chữ “Đắc Nhất”. Đắc Nhất không phải là đứng số 1, mà “là chính mình”, là “bản chủ” của mình. Nếu không thấu suốt cái gì là “Đắc Nhất” của mảnh đất này, quy hoạch một trăm năm có thể đánh rơi mất “bản chủ” của mảnh đất “lắng hồn núi sông nghìn năm”.

Đi tìm lại “Đắc Nhất” của Thăng Long Hà Nội

Lão Tử viết:

Thiên đắc nhất dĩ thanh

Địa đắc nhất dĩ ninh

Thần đắc nhất dĩ linh

Trời đắc nhất mà trong

Đất đắc nhất mà yên

Thần đắc nhất mà linh

“Nhất” là bản thể sơ nguyên, là cái lõi mà nếu đánh mất nó, vạn vật tức khắc sụp đổ. Vậy thì, giữa muôn trùng biến thiên của lịch sử, cái “Nhất” giúp Thăng Long - Hà Nội tồn tại qua hơn ngàn năm phong ba bão táp là gì?

Chúng ta không nên nhìn Hà Nội bằng cặp mắt của một nhà chính trị thuần túy. Nên nhìn bằng đôi mắt của một nhà khảo cổ học cắm rễ vào bùn đất, một nhà địa - văn hóa để nhìn thấu dòng chảy nghìn năm. Cái gốc rễ sâu bền nhất của đất này gói gọn trong một chữ: NƯỚC.

Hà Nội là “thành phố trong sông”. Bản thân cái tên Hà Nội do vua Minh Mạng đặt năm 1831 đã chỉ rõ một hình thế địa lý: vùng đất nằm trong vòng cung bao bọc bởi các con sông. Đó là một nền văn minh cư trú trên đầm lầy, một sự cộng sinh hòa hợp giữa đất và nước. Cha ông ta không chọn cách đắp đê ngăn nghẽn áp chế mọi mạch nước. Người kẻ chợ nương theo dòng chảy. Thăng Long xưa mở ra không phải bằng những bức tường thành kín bưng như Bắc Kinh mà mở ra sông Hồng. Cửa ngõ thành Thăng Long là sông Hồng, đường huyết mạch là sông Tô Lịch, sông Kim Ngưu, sông Nhuệ, sông Đáy, kết nối với một mạng lưới hồ đầm chằng chịt vừa làm hồ điều hòa, vừa là nguồn sinh kế, vừa là tấm gương phản chiếu tâm hồn kẻ sĩ.

Cái “Đắc Nhất” của Hà Nội, vì thế, chính là sự cân bằng hữu cơ giữa Thủy và Thổ, giữa cấu trúc đô thị và hệ sinh thái đầm lầy châu thổ. Nhờ “đắc” được dòng chảy dung hòa ấy, đất Thăng Long mới “ninh” (yên), khí thiêng mới “linh”.

Hà Nội là sự tích hợp biện chứng giữa Làng và Kẻ Chợ. Người Hà Nội mang bản chất người làng đi làm kinh tế đô hội. Phố giấu làng trong ruột, đình làng nằm lọt thỏm giữa lòng phố cổ. Cái hồn cốt làng xã, tính cộng đồng mềm dẻo, sự gắn kết huyết thống và phường hội chính là công cụ giảm xóc văn hóa, giúp Thăng Long sống sót qua bao trận binh lửa, dịch bệnh và biến cố thời đại. Đánh mất mặt nước và bẻ gãy cấu trúc làng - phố, Hà Nội sẽ tự phế đi võ công ngàn năm của chính mình.

Chương 39 của Đạo Đức Kinh tiếp tục một lời cảnh báo:

Kỳ trí chi dã,

Vị thiên vô dĩ thanh tương khủng liệt,

Vị địa vô dĩ ninh tương khủng phát,

Vị thần vô dĩ linh tương khủng hiết

Điều ấy dẫn đến rằng:

Trời nếu cứ muốn trong mãi, e sẽ nứt

Đất nếu cứ muốn yên mãi, e sẽ phát động

Thần nếu cứ muốn linh mãi, e sẽ suy kiệt

Lão Tử nhìn thấy cái bẫy của sự cực đoan. Vũ trụ luôn vận động. Cái “đắc nhất” không có nghĩa là không thay đổi mà dù thay đổi như thế nào Thăng Long Hà Nội vẫn phải là chính mình.

Hãy nhìn vào Hà Nội của vài thập niên qua để thấy sự thay đổi gây chấn động với Đất. Chúng ta đã ứng xử với cái “Nhất” của mình ra sao? Chúng ta bức tử sông Tô Lịch thành một mương nước thải lộ thiên rồi bối rối tìm cách bơm nước sông Hồng vào thau rửa. Chúng ta san lấp hàng trăm hồ đầm lớn nhỏ. Chỉ trong vài thập kỷ đô thị hóa, diện tích mặt nước tự nhiên của Hà Nội đã bốc hơi một cách đáng lo ngại.

Và thiên nhiên trả lời: Đất không chịu “ninh” (yên). Những trận mưa rào không quá sáu mươi phút đủ sức biến thủ đô thành một ao nước. Chúng ta vẽ đồ án cho năm 2126 trong khi hệ thống thoát nước hiện tại bất lực trước một đám mây mùa hạ. Đó là vấn đề của người bỏ quên cái gốc thấp dưới chân mà chỉ ngước nhìn lên những đám mây hồng.

“Cao dĩ hạ vi cơ”: Lấy cái thấp hèn làm nền tảng

Lão Tử viết tiếp:

“Cố tất quý nhi dĩ tiện vi bản

Tất cao hĩ nhi dĩ hạ vi cơ...

Thị cố bất dục lục lục nhược ngọc,

lạc lạc nhược thạch

Cho nên, quý phải lấy tiện làm gốc

Cao phải lấy thấp làm nền…

Vì thế, chớ muốn long lanh sáng như ngọc chuốt

hãy mộc mạc vững chãi như đá tảng.

Đây chính là kim chỉ nam cho tâm thế thận trọng khi tiếp cận đề án 100 năm:

- Nền móng của một đô thị không nằm ở những tòa tháp tài chính mà nằm ở hệ thống công trình ngầm. Đô thị muốn vươn cao thì rễ phải bám sâu vào lòng đất mẹ. Đồ án quy hoạch trăm năm nếu bỏ quên hạ tầng tiêu thoát nước, không gian xanh bản địa và môi trường sống của người nghèo đô thị, thì cái cao đó đang không lấy gốc làm nền.

- Nguy cơ "đứt gãy trầm tích". Hà Nội không phải một trang giấy trắng. Dưới mỗi tấc đất Hà Nội là ba bốn tầng văn hóa chồng lấn: thời tiền sử, thời Bắc thuộc, thời Lý - Trần, Lê, Nguyễn, Pháp thuộc. Đô thị hóa cần nghiêm cẩn, khiêm hạ và thận trọng trước lịch sử.

- Chiếc xe không nằm ở các bộ phận rời rạc. Lão Tử viết: “Kể hết các bộ phận của xe thì chẳng có cái gì riêng biệt là xe”. Một đô thị sống động không phải là phép cộng số học giữa xi măng, sắt thép, đường vành đai và cây xanh công viên. Nó là một cơ thể sống tuần hoàn. Khi quy hoạch tách rời đời sống sinh kế của người dân ra khỏi không gian văn hóa, biến các làng quê trù phú ven đô thành những khu đô thị vô hồn, cỗ xe ấy sẽ rệu rã.

Thay đổi để giữ trọn cái “Đắc Nhất”

Nói như vậy không có nghĩa là Hà Nội phải bảo thủ, hóa thạch. Sông Hồng vẫn cuộn đỏ phù sa, và quy luật sinh tồn là vận động. Hà Nội phải thay đổi, phải mở rộng, phải hiện đại hóa để gánh vác vị thế của một quốc gia hơn 100 triệu dân đang trỗi dậy.

Nhưng câu hỏi cốt tử là: Thay đổi như thế nào mà vẫn giữ được “Đắc Nhất”?

Bí quyết nằm ở triết lý “thuận thiên”. Thay vì tiếp tục xem tự nhiên là đối tượng để chinh phục, quy hoạch 100 năm phải là một bản hòa ca nương tựa vào tự nhiên. Biến sông Hồng thành trục xương sống sinh thái. Trả lại không gian thoát lũ tự nhiên cho dòng sông mẹ.

Hãy nhớ quý phải lấy tiện làm gốc, học tính thô mộc của đá. Bớt đi những dự án hình thức. Dành nguồn lực cho những thứ "tiện bạc", "thấp hèn" nhất như hệ thống thu gom nước thải độc lập, phục hồi những dòng sông hấp hối, tái tạo mạng lưới hồ đầm điều tiết tự nhiên. Hãy để Hà Nội vững chãi như một tảng đá, chịu được va đập của biến đổi khí hậu toàn cầu.

Và không thể quên việc bảo tồn sinh thái nhân văn của Làng trong Phố. Đừng biến các làng ven đô thành những khối nhà ống bê tông ngột ngạt. Quy hoạch để giữ lại cây đa, giếng nước, sân đình, giữ lại nhịp sống cộng đồng gắn kết, thứ năng lượng mềm giúp cố kết lòng người qua bao cơn tao loạn.

Một đồ án quy hoạch cho một trăm năm tới thực chất không phải là bản vẽ phác thảo tương lai, mà là một bản cam kết đạo đức với hậu thế.

Người xưa bảo: “Quý dĩ tiện vi bản, cao dĩ hạ vi cơ”. Quy hoạch Hà Nội nếu chỉ chăm chút cho ngọn cao mà bứng đi gốc rễ, muốn thành phố lấp lánh như ngọc quý mà rẻ rúng những dòng sông bùn lầy và những ngôi làng mộc mạc, ắt sẽ chẳng thể ninh (yên).

Nước sông Hồng đỏ ngầu chảy hàng nghìn năm chưa từng đổi hướng chỉ vì một quyết định của bất kỳ bậc quân vương nào. Hà Nội muốn trường tồn trước hết phải học cách cúi mình nghe nhịp thở của dòng sông.